Ví dụ, thi sĩ phải dùng trí tưởng tượng để làm thơ, nhưng người đọc không cần phải tưởng tượng để đọc bài thơ đó. Sở dĩ như vậy là vì với lĩnh vực khoa học xã hội, độc giả thường phải đọc từ hai tác phẩm trở lên về cùng một chủ đề thì mới có thể hiểu được chủ đề đó. Mục đích chính là tìm hiểu xem cuốn sách có yêu cầu bạn phải đọc kỹ hơn không.
Nhưng nó tự khẳng định mình dù đã đến bờ vực của sự diệt vong. Có thể diễn giải quy tắc thứ hai và thứ ba của cấp độ đọc phân tích như sau: Mặc dù vậy, điều này không có nghĩa nhận định thế nào cũng đúng.
Khi đối diện với một cuốn sách triết học, độc giả cũng không còn cách nào khác là phải đọc nó, nghĩa là suy nghĩ về nó. Ví dụ câu trích từ tác phẩm The Prince (Quân vương) của Machiavelli sau đây: Họ không thể phân biệt những từ họ không hiểu một cách đầy đủ với những từ đã hiểu.
Hãy xem cách tình yêu biến hoá giữa con người với nhau. Tất cả những gì bạn có thể làm là suy nghĩ về câu hỏi. Trong một cuốn sách, mỗi nhận định là một lời tuyên bố, biểu thị ý kiến của tác giả về một vấn đề nhất định.
Không thể bảo đảm tính khách quan biện chứng tuyệt đối chỉ bằng việc tránh đưa ra những nhận xét rõ ràng về tính chân thực của các ý kiến trái ngược nhau. Nếu bạn đọc lời bình ngay từ đầu, chúng có thể sẽ làm lệch lạc quá trình đọc của bạn. Không phải lúc nào độc giả cũng ghi chú cẩn thận những hạn chế mà tác giả đã tự đặt ra cho bản thân anh ta.
Ở thế kỷ XVIII, các tác giả có thói quen viết những tiêu đề rất trau chuốt, tỷ mỷ - những tiêu đề có thể nói hết cho người đọc biết cuốn sách viết gì. Bạn cần nhớ rằng mỗi lĩnh vực kiến thức đều có hệ thống từ chuyên môn riêng. Kể từ đó, hầu hết các cuốn bách khoa toàn thư lớn đều được biên soạn theo trình tự bảng chữ cái.
Nắm vững thực tế này có thể giúp độc giả phát hiện những từ quan trọng hơn. Đây chính là một trong những khiếm khuyết lớn nhất của cuốn sách. Có rất nhiều vấn đề cần phải hiểu mà bạn không thể tìm thấy trong một cuốn bách khoa toàn thư.
Nếu không có thông tin thêm, độc giả có thể đưa ra những lời phê bình hợp lý và hy vọng rằng nếu tác giả biết được những phê bình đó, ông sẽ thay đổi quan điểm. Quy tắc này được áp dụng cho cả loại sách hướng dẫn. Nếu bạn đã xem kỹ cả cuốn sách trước khi đọc phân tích, bạn sẽ biết có trang tóm tắt hay không và nếu có thì trang đó nằm ở đâu.
Còn định lý 3 phụ thuộc vào việc sử dụng kết cấu dựng hình của định lý 2, trong khi định lý 2 lại liên quan đến định lý 1. Nhưng sự thật không phải lúc nào cũng như vậy, nhất là đối với các tác phẩm mô tả. Việc này xuất phát từ những hiểu biết còn chung chung và khá mơ hồ về cuốn sách.
Câu hỏi thứ ba (Cuốn sách có đúng không?) thay đổi nhiều hơn hai câu trên một chút. Sự khác biệt giữa học có hướng dẫn và học bằng sự khám phá chính là sự khác biệt về tài liệu mà người học dùng. Vì thế, bạn cần phải phân biệt các câu hỏi thật sự mang tính triết học và các câu hỏi khác mà một triết gia có thể bàn đến.