Ngay lúc bạn quan sát nó, cảm nhận trường năng lượng của nó, sự hung hãn của nó trong lòng bãn, và chú tâm đến nó, thì tình trạng đồng hóa bị tan rã. Suy nghĩ trở thành căn bệnh. Tôi nhặt vài thứ lên, một cây bút chì, một chai nước uống, kinh ngạc trước vẻ mỹ miều và sinh động của chúng.
Hãy quan sát tâm trí của mình, bạn sẽ thấy đây là cung cách vận hành cúa nó. Tất cả những thứ này quyết định cách chúng ta nhìn thế giới, cách phản ứng của chúng ta, suy nghĩ của chúng ta, loại quan hệ của chúng ta, và lối sống của chúng ta. Nếu bạn bị lôi cuốn vào tình trạng đồng hóa một cách bất thức với cảm xúc do thiếu sự hiện trú, bình thường là như vậy, cảm xúc ấy tạm thời trở thành “bạn”.
Hãy thực hành tháo gỡ sự chú tâm khỏi quá khứ và tương lai bất cứ khi nào bạn không cần đến chúng. Những người khác thì đi từ mối quan hệ này đến mối quan hệ khác, đi từ chu kỳ khoái lạc và đau khổ này đến chu kỳ tương tự khác, nhằm mục đích thỏa mãn tự ngã hư ngụy một cách vô vọng qua việc kết hợp với người khác phái. Bạn biểu hiện nó ra.
Sự giải trừ đó toàn triệt đến nỗi Cái Tôi giả tạo khốn khổ này tức thì sụp đổ, giống như nắp van vọt ra khỏi món đồ chơi căng đầy hơi. Sự đồng hóa với tâm trí cung cấp cho nó thêm nhiều năng lương; còn quan sát tâm trí rút bớt năng lượng của nó. Bạn không bao giờ đánh mất nó được, và nó cũng không thể rời bỏ bạn được.
Một mặt, bởi vì bạn vẫn còn sốn trong thân xác, bạn cũng chia sẻ tính mong manh và khả năng tử vong của hình tướng vật chất với mọi người khác và với mọi loài sinh vật. Chúng ta hãy dừng lại ở điểm này một chút để tìm hiểu xem bằng cách nào nó có thể trở thành một cơ hội để tỏ ngộ. Bạn sẽ biết rõ nó muộn nhất khi bạn thấy cái chết gần kề.
Nó được diễn tả như là giáo lý “hành động hiến dâng”. các thiền sư Nhật Bản dùng thuật ngữ satori để miêu tả tia chớp trí tuệ, khoảnh khắc vô niệm và trạng thái hiện trú toàn triệt. Nó không thể trở thành đối tượng để chúng ta thu thập kiến thức.
“Khoan thứ” là một thuật ngữ thông dụng suốt hai ngàn năm qua, nhưng hầu hết mọi người đều hiểu biết rất hạn chế về ý nghĩa của nó. Nói chính xác hơn, chúng không hề tích cực hay tiêu cực. Nếu bạn ngưng đầu tư “tình hình cái tôi” vào nó, tâm trí sẽ mất đi khả năng cưỡng chết, mà căn bản là cưỡng chế phán xét, và do đó phản kháng chống lại cái đang là, gây ra xung đột, bi kịch, và nỗi đau khổ mới.
Họ bị buộc phải vâng phục. Nhưng nếu bị trúng đòn, có nghĩa là môn đồ đang đắm chìm vào suy nghĩ, tức là y vắng mặt, không hiện trú, tức là y không tỉnh thức. Ý thức chỉ biết bản thân nó là sắc tướng bên ngoài, và do đó nó sống trong nỗi sợ hãi bị hủy hoại sắc tướng bật chất hay tâm lý của nó.
Nếu bạn chấp nhận hình ảnh bất kể nó là gì đi nữa, nếu bạn thân thiện với nó, nó không thể không thân thiện với bạn. Thực ra, chúng là hai khía cạnh khác biệt nhau của cùng một sai lầm. Cứu cánh là một khái niệm, một điểm nằm trong cái tương lai được phóng chiếu bởi tâm trí, khi mà sự cứu rỗi dưới bất kỳ hình thức nào – như hạnh phúc, thỏa nguyện, bình đẳng, giải thoát, và vân vân – sẽ được đạt đến.
Cô ta sẽ bị thách đố bởi tình trạng bất lực trong việc lắng nghe cô, trong việc quan tâm đến cô, và dành cho cô khoảng không gian để hiện hữu, do vì anh ta tuyệt không hề hiện trú. Khi một ý nghĩ chìm lắng đi, bạn thể nghiệm sự gián đoạn trong dòng chảy của tâm trí – một khoảnh khắc “vô niệm”. Đôi khi sách có dùng một số các thuật ngữ Kitô giáo hay Phật giáo trích dẫn từ tác phẩm A Course in Miracles hay từ các kinh sách khác, tôi không nhằm so sánh mà nhằm khiến cho bạn lưu ý đến sự thật là về tinh túy luôn chỉ có một giáo lý tâm linh duy nhất, mặc dù nó xuất hiện dưới nhiều hình thức khác biệt nhau.