Ví dụ, tiêu đề sách lịch sử luôn có những nét đặc trưng như có từ lịch sử xuất hiện, nếu không thì những từ còn lại thường báo cho độc giả biết cuốn sách này viết về chuyện đã xảy ra. Rõ ràng sự thiếu nhất quán của một triết gia là một điều nghiêm trọng. Sách lý thuyết lại có thể chia nhỏ thành sách lịch sử, khoa học (và toán học) và triết học.
Bạn chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ đó bằng cách đọc qua một lượt từ đầu đến cuối cuốn sách. Đó chính là sự trân trọng tối đa mà bạn dành cho tác giả. Thậm chí rắc rối nằm ngay trong những từ như triết học và khoa học vì chúng vốn được sử dụng rất đa dạng.
Lý tưởng nhất là đọc một mạch không nghỉ, mặc dù điều này là khá khó khăn với những người bận rộn mà phải đọc một cuốn tiểu thuyết dài. Những quy định như vậy thường xuất hiện ở đầu cuốn sách dưới dạng định nghĩa, định đề, tiền đề,… Vì việc quy định cụ thể cách sử dụng là một đặc điểm của các ngành khoa học tự nhiên nên người ta thường nói rằng những ngành khoa học này giống những trò chơi hay chúng có cấu trúc của một trò chơi. Những câu hỏi cần phải trả lời trong lần đọc kiểm soát gồm: (1) Đó là loại sách gì? (2) Toàn bộ cuốn sách nói về vấn đề gì? (3) Trật tự cấu trúc của cuốn sách mà qua đó tác giả phát triển ý đồ hoặc hiểu biết của mình về chủ đề chung của cuốn sách là gì? Bạn có thể và cũng nên ghi chú những ý liên quan đến các câu trả lời cho những câu hỏi này, nhất là khi bạn biết rằng phải nhiều ngày hoặc nhiều tháng sau bạn mới có thể quay lại đọc cuốn sách ở cấp độ phân tích.
Có thể hiểu từ phương tiện theo hai cách. Đọc sơ qua nắm ý chính, dù cũng rất hữu ích cho bước đầu tiên của việc đọc phân tích, nhưng cơ bản là để chuẩn bị cho bước thứ hai: hiểu được nội dung cuốn sách bằng cách thống nhất thuật ngữ với tác giả, diễn giải các nhận định của tác giả và theo sát các lý lẽ tác giả đưa ra. Ưu điểm lớn của hình thức cách ngôn trong triết học là nó khiến người đọc phải suy nghĩ.
Lượng tài liệu dạng như vậy nhiều tới mức không ai có đủ thời gian đọc hết một phần những tài liệu đó. Bạn chỉ được khai sáng khi nào bạn biết tác giả có ngụ ý gì, và tại sao lại nói như vậy, chứ không chỉ biết tác giả nói gì. Tác giả của cuốn sách có vẻ rất nghiêm túc khi nói vậy.
Nếu không đọc theo cách đó, một cuốn sách thực hành sẽ không được coi là sách thực hành. Ví dụ tiêu biểu nhất là cuốn Kinh Thánh. Tác phẩm được hoàn thành với sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu Triết học, các tác giả chính là giám đốc và phó giám đốc của viện này).
Bạn sẽ không thể hiểu được một cách thật sự và cũng không thể phê bình một cách xác đáng. Nói cách khác, bạn sẽ thấy tìm hiểu một bài thơ không hề khó như bạn tưởng. Rõ ràng, người đó đã nâng mình lên nhờ chính hoạt động của bản thân, mặc dù có sự giúp đỡ gián tiếp của tác giả - người đã mang đến điều gì đó để dạy người đọc.
Nhưng độc giả thấy rằng người anh hùng, dù không đáng phải chịu số phận khắc nghiệt như miêu tả, ít nhất cũng hiểu được tại sao mình lại phải chịu như vậy. Nếu không thể bảo vệ ý kiến của mình thì rõ ràng độc giả đang biến kiến thức thực tế thành quan điểm cá nhân. Có rất nhiều khó khăn mà bất cứ độc giả nào cũng có thể gặp phải khi đọc trọn vẹn một cuốn sách, đặc biệt là một cuốn sách dài và khó.
Từ đó chỉ ra những suy nghĩ, hành động con người phải thực hiện để có được hạnh phúc, hoặc tránh sự bất hạnh. Trái lại, bạn cần phải hiểu hết mọi câu. Và độc giả thường mong muốn được chia sẻ suy nghĩ với người anh hùng đó.
Chúng ta nên cố kiềm chế những phản ứng này hoặc ít nhất nên biết khi nào chúng diễn ra. Cuối cùng, bạn cần đọc những hàm ý khi nó đã được cô đọng thành thục. Và việc họ gặp may mắn hay bất hạnh sẽ tạo cho ta những cảm xúc (có thể là đồng tình hoặc phản đối) mạnh mẽ hơn cả các giá trị nghệ thuật mà tác phẩm mang lại.