Thứ nhất, trong quá trình tìm nhận định, bạn thường dựa vào một ngữ cảnh rộng hơn so với quá trình tìm thuật ngữ. Nếu bạn muốn diễn đạt chính xác tính chỉnh thể của một cuốn sách (quy tắc 2), bạn phải chỉ rõ được những phần đã làm nên tính chỉnh thể ấy (quy tắc 3). Khó có thể đưa ra các ví dụ về những nguyên tắc chủ đạo đó.
Và một thi sĩ vẫn là một người bình thường, vẫn học tập và cảm nhận cuộc sống bằng những giác quan như mọi người. Aristotle đã nói cốt truyện là linh hồn của truyện. Để trả lời câu hỏi này, bạn vẫn phải tìm hiểu thuật ngữ, nhận định và lý luận mà tác giả sử dụng.
Điều này cho chúng ta một gợi ý nữa là những nhận định chủ chốt phải nằm trong các lập luận chính của cuốn sách. Nên nhớ rằng bản thân từ ngữ không tự viết nên chính nó. Trong khi triết học cũng giải quyết những vấn đề của thế giới nhưng chúng ta thường ít khi đưa ra ý kiến về những câu hỏi triết học.
Điều đó có nghĩa là bạn không nhất thiết phải đọc hết từ đầu đến cuối cuốn sách mới áp dụng được bốn quy tắc này, rồi sau đó lại đọc đi đọc lại cuốn sách để áp dụng các quy tắc khác. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, điều này ít khi xảy ra nên việc phải đọc nhiều hơn một tác phẩm cấp thiết hơn rất nhiều. Và mọi mối liên hệ tồn tại giữa từ và thuật ngữ cũng tồn tại giữa cụm từ và thuật ngữ.
Từ những lập luận trên, chúng ta có thể rút ra các quy tắc để sử dụng từ điển một cách thông minh. Vì mỗi thuyết của lịch sử mỗi khác và vì thuyết của một sử gia sẽ ảnh hưởng việc ghi chép các sự kiện của anh ta nên chúng ta phải đọc nhiều hơn một ghi chép về lịch sử của một sự kiện hay một thời kỳ nào đó nếu muốn hiểu được nó. Một bộ phận các từ dùng để diễn tả những ý tưởng chính, những khái niệm cốt yếu mà tác giả muốn đề cập đến sẽ góp phần tạo nên hệ thống từ vựng riêng của tác giả đó.
Tiếp tục như vậy cho đến hết cuốn sách. Điều này không có nghĩa là nhà khoa học và người nguyên thuỷ kia không thể thống nhất với nhau về bất kỳ dữ kiện nào, mà cả hai phải đồng ý rằng một chỉnh thể vật chất bao giờ cũng lớn hơn bất kỳ bộ phận nào trong nó. Theo đó, tác giả có thể nêu ra những nhận định của bản thân trung thực về một vấn đề thực tế hay trong lĩnh vực kiến thức nào đó.
Nếu bạn thực hiện nhất quán nguyên lý này, bạn sẽ thấy mình ngày càng cần ít sự trợ giúp hơn. Có bốn câu hỏi chính bạn phải hỏi khi đọc bất cứ cuốn sách nào. Chúng ta cũng biết rằng đã có lúc sự việc này gây ra tranh cãi ở cả bên ngoài nước Mỹ vì thông tin về chiến thắng của miền Bắc không đến được với họ cho đến tận cuối tháng năm, sáu hay bảy năm 1865.
Do sự khác nhau về ngôn từ, người đọc có thể nhầm tưởng các tác giả bất đồng quan điểm, hoặc bỏ qua các ý kiến khác nhau chỉ vì họ diễn đạt giống nhau về ngôn từ. Khi đọc phân tích một tác phẩm riêng lẻ, có hai câu hỏi nữa cần được trả lời là Cuốn sách có đúng không? và Ý nghĩa của nó là gì?. Đôi khi trong kịch của Aristophanes, có ít nhất một lần nam diễn viên chính bước ra khỏi khung nhân vật, tiến đến khán giả và diễn thuyết một bài về chính trị chẳng liên quan gì đến nội dung vở kịch.
Tất nhiên, tốt và xấu không thể giống như đúng và sai. Đọc một tác phẩm khoa học không dễ như đọc một câu chuyện. Nhưng chúng ta chỉ cần học toán một lần vì toán học được coi là ngôn ngữ viết.
Điều này sẽ gây cản trở hơn là giúp ích cho ta. Đôi khi, điều buộc người đọc phải tạo ra một khung câu hỏi theo cách không tác giả nào đúng. Độc giả phải san sẻ một nửa gánh nặng đó để đến với tác giả.