Lúc đọc xong chương đầu tiên, tôi cảm thấy như vừa được đọc một bài kinh văn thâm diệu và linh cảm được năng lực chuyển hoá kỳ diệu của cuốn sách. Bạn chính là Cái Biết. Khi không bị che chắn bởi hàng rào của khái niệm, lòng xót thương sẽ có mặt một cách tự nhiên trong tất cả những quan hệ của bạn.
Có một động lực trong mỗi người chúng ta để hướng về Nhất Thể, với sự nguyên vẹn lúc ban đầu, đây là một sức đẩy của chiều hướng tâm linh để trở về với cái Một, với Nhất Thể. Nhận ra sự nhận biết đó là sự phát sinh của sự tĩnh lặng ở nội tâm. Họ đã buông bỏ hết, do đó con người, “cái Tôi” được tạo dựng nên bởi trí năng, đã không còn nữa.
Có những vi sinh vật đang hoạt động nhộn nhịp. (21) Giáo lý “Tất cả là một”: Một giáo lý được nêu trong kinh Hoa Nghiêm, ngụ ý một hàm chứa trong tất cả, và ngược lại, tất cả cũng hàm chứa trong cái một. Thông thường, các bộ tộc, quốc gia và tôn giáo thường thấy cá tính tập thể của họ được làm mạnh thêm khi họ tạo được ra những đối thủ, hay kẻ thù của mình.
Do đó chúng ta cần phải có một màu gì khác, không phải là màu xanh, để chúng phân biệt được đây là màu xanh, nếu không thì màu xanh sẽ không có gì khác biệt, sẽ không hiện hữu. Trong lịch sử của nhân loại từ xưa đến nay, con người đa gieo rắc không biết bao nhiêu bạo động, tàn ác…gây tổn thương cho nham và vẫn còn đang tiếp tục gây thêm những khổ đau cho người khác. Chủ nghĩa giáo điều – trong tôn giáo, khoa học,…- được phát sinh bởi niềm tin sai lạc rằng tư tưởng có thể gói trọn được thực tại hay chân lý.
Do đó, khi trở về với khoảng trống ấy ở trong ta, bạn sẽ cảm nhận được một niêm an bình như một người đã trở về nhà. Bạn sẽ nhận ra rằng giây phút bạn lưu ý đến sự yên lặng ở chung quanh, bạn không hề suy nghĩ. Đó là lối viết ngắn gọn như kinh văn (sutra) thời xưa ở Ấn độ.
Đó chính là Tâm, một cái gì rất chân thật, sâu xa, vượt thoát cả quá khứ và tương lai. Đối với một số người, nhờ kinh nghiệm thiếu thốn này, họ đã đi sâu vào bên trong để tiếp xúc với những gì chân thật ở trong họ - đó là Hiện Hữu mà không cần một thuộc tính nào cả, đó chính là an nhiên tự tại. Khi nào chúng ta còn phê phán và hay đặt tên một sự kiện, khi đó chúng ta còn khuynh hướng tách rời sự kiện ấy khỏi toàn thể đời sống.
Điều mà chúng ta có thể diễn tả qua ngôn từ là có một chiều không gian rất yên tĩnh nhưng tràn đầy sự tỉnh táo và cảnh giá ở trong bạn, trong đó, những suy tư và khái niệm của bạn được hình thành. Hầu hết những quan hệ giữa người với người đều bị trói buộc trong sự trao đổi của ngôn từ - thế giới của suy tưởng. Hoặc họ chẳng nghe ra được bạn đã nói gì, vì họ đã đánh mất mình trong những dòng suy tư, lo sợ vẩn vơ của chính họ.
Ngay cả khi sự trách móc là hoàn toàn “xác đáng”, bạn vẫn tạo ra một xác minh cho chính mình như là một ngục tù mà những thanh xà lim được làm nên bởi những ý nghĩ lưu chuyển ở trong đầu bạn. Quan hệ của bạn như tehé nào với một chị bán hàng, một em nhỏ bán vé số, hay một bác đạp xích lô? Khi bạn mang sự chú tâm của mình vào những cảm xúc ở trong mình, bỗng nhiên có một chút không gian và tĩnh lặng quanh nó.
Chiều không gian không có hình thể ấy của nhận thức thuần khiết được phát sinh từ bên trong bạn, thay thế cho thói quen của bạn thích tự đồng hoá mình (6) với những biểu hiện bên ngoài của hình tướng. Thói quen suy tư chỉ là một giai đoạn phát triển cần thiết của con nguời. Bạn có thể không nhìn ra phút giây ngắn ngủi trong đó bạn rất có ý thức với những gì đang xảy ra, nhưng không hề suy tư.
Chúng ta chưa từng bao giờ vượt lên trên một cảm nhận hạn hẹp về tự thân (9) - được tạo nên bởi thói quen suy tư ở trong ta và thường bị trói buộc bởi quá khứ. Do đó bạn không thể trở thành một đối tượng cho chính mình. Nhưng nhu yếu này không nhất thiết có liên quan đến tự ngã, mặc dù rất có thể trở thành một phần của tự ngã khi bạn vô tình kết hợp nhu yếu đó với sự phán xét hay những câu chuyện bạn tự thêu dệt nên (như “Tôi cần phải có một người đàn ông (hay đàn bà) ở bên cạnh để làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc”).